Tấn bi kịch cuộc đời Alan Turing – cha đẻ của ngành khoa học máy tính – Tin khoa học công nghệ hay nhất

Tin tức khoa học chủ đề Tấn bi kịch cuộc đời Alan Turing – cha đẻ của ngành khoa học máy tính tại website Blogradio.org. Tin mới cập nhật hôm nay.

Tấn bi kịch cuộc đời Alan Turing – cha đẻ của ngành khoa học máy tính tin được nhiều người quan tâm.

Cha đẻ của trí tuệ nhân tạo (AI) – thiên tài đồng tính, số phận bi thảm

Nếu là một người đam mê công nghệ, bạn đã từng nghe đến Alan Turing – cha đẻ của ngành khoa học máy tính và trí tuệ nhân tạo cũng như cuộc đời đầy bi kịch của ông?

Ngày 19/8/2014, cả thế giới đã chứng kiến ​​một bước ngoặt lịch sử của ngành toán học. Cuối cùng, sau một thời gian dài Chính phủ Anh phải xin lỗi một trong những nhà toán học vĩ đại nhất của thế kỷ 20, Nữ hoàng Elizabeth II ban hành lệnh ân xá cho Alan Turing (1912-1954) – Người bị buộc tội có hành vi đồng tính luyến ái vào năm 1952 – sau khi chết.

Alan Turing sinh ngày 23/6/1912 tại London (Anh). Khi đó, cha của Alan Turing, ông Julius Turing đang làm việc tại Ấn Độ nên vợ chồng ông quyết định để con trai sống với người bạn là Đại tá Ward ở Anh, thay vì để con sống cùng.

Lớn lên một chút, trong những ngày dã ngoại hay uống trà chiều, cậu bé Alan Turing thường dành thời gian nhìn vào các tổ ong, nghiên cứu đường bay của ong hoặc vẽ bản đồ, cũng như phát minh ra những công cụ hữu ích. Tuy nhiên, anh ấy yêu thích những con số nhất, mặc dù anh ấy chưa học nó.

Alan Turing tìm thấy chúng ở khắp mọi nơi, kể cả trên các cột đèn. Đối với anh, chúng giống như những bức thư của người ngoài hành tinh đang chờ được giải mã.

Alan Turing thể hiện sự tò mò và thông minh ngay từ khi mới cắp sách đến trường. Tuy nhiên, anh ấy rất nhút nhát và thường tự suy nghĩ lung tung. Đặc biệt là sau khi được tặng sách “Các kỳ quan của thiên nhiên”.

Sau đó, anh bắt đầu nhìn côn trùng, cây cối, và thậm chí cả con người từ một góc nhìn mới. Các bạn cùng lớp đã trêu chọc và gọi anh là “người xem hoa cúc mọc”.

Có lần, mẹ của Turing, Ethel Turing, đã từng vẽ một bức ký họa con trai mình đang nhìn xuống những bông hoa mà quên mất rằng cậu đang chơi khúc côn cầu. Đó là khi nhà phát minh tương lai bắt đầu mơ về một cỗ máy có thể được lập trình để hoạt động giống như bộ óc của con người.

Thiên tài người Anh từng học tại trường nội trú Shertern. Mặc dù được biết đến với trí óc thông minh và khả năng giải quyết vấn đề, nhưng cậu không phải là một học sinh có thành tích học tập ấn tượng. Tuy nhiên, tất cả đã thay đổi khi Turing gặp được tình yêu của đời mình năm 13 tuổi – Christopher Morcum – một cậu bé hơn một tuổi cùng trường. Morcum và Turing đã dành tất cả thời gian của họ cùng nhau để tranh luận về các vấn đề toán học và hình học. Ngay sau đó, kết quả học tập của Turing được cải thiện đáng kể.

Chân dung của Alan Turing sẽ xuất hiện trên tờ 50 bảng vào năm 2021.
Chân dung của Alan Turing sẽ xuất hiện trên tờ 50 bảng Anh vào năm 2021. (Ảnh: Ngân hàng Anh).

Thiên tài khoa học đồng tính

Morcum chết vì bệnh lao vào tháng 2 năm 1930. Turing tiếp tục tin rằng Morcum vẫn còn sống ở một thế giới khác. Một trong những bài báo khoa học đầu tiên của Turing, có tiêu đề Nature of Spirits, ngày 20 tháng 4 năm 1933, tuyên bố rằng ông đã cảm nhận được sự hiện diện của một người bạn thân.

Anh ấy tự hỏi tại sao chúng ta cần xác. “Tại sao chúng ta không thể hoặc không thể sống tự do như những linh hồn và giao tiếp bằng thần giao cách cảm. Có vẻ như cơ thể cung cấp thứ gì đó để tinh thần chăm sóc và sử dụng.”, ông đã viết.

Đau buồn vì mất đi mối tình đầu, Alan Turing tiếp tục phát triển con đường học vấn. Ông đã giành được học bổng toán học tại King’s College, Cambridge, và tốt nghiệp trường này vào năm 1934.

Trong luận án của mình, ông đã chứng minh định lý giới hạn trung tâm, một đóng góp lớn cho thống kê và xác suất, khiến ông trở thành một trong những nhà khoa học dữ liệu đầu tiên.

Hai năm sau, Turing đã viết một bài báo được công nhận là nền tảng của khoa học máy tính với tựa đề Về các con số có thể tính toán được. Trong đó, ông đưa ra giả thuyết rằng một ngày nào đó sẽ có một cỗ máy được chế tạo với khả năng tính toán bất kỳ bài toán nào chỉ thông qua 2 con số 0, 1 và không gian.

Sau đó, ông tạo ra những cỗ máy đơn nhiệm có tên “Máy tính Turing”, hoạt động giống như một máy tính và giải quyết các vấn đề được lập trình. Ý tưởng lưu trữ dữ liệu trong bộ nhớ máy tính sau này đã trở thành cơ sở cho các máy tính hiện đại.

Nhắc đến Alan Turing, chúng ta không thể không nhắc đến những đóng góp lịch sử của ông trong Thế chiến thứ 2 khi giúp quân Đồng minh giải mã những thông tin bí mật của Đức Quốc xã. Và trước đó là ý tưởng biến máy vi tính thuần túy thành những cỗ máy mạnh mẽ và đa năng như siêu máy tính ngày nay.

Bức tượng của nhà toán học vĩ đại Alan Turing tại Bảo tàng Công viên Bletchley, nơi từng là trung tâm phân tích mật mã của Anh trong Thế chiến II.
Bức tượng của nhà toán học vĩ đại Alan Turing tại Bảo tàng Công viên Bletchley, nơi từng là trung tâm phân tích mật mã của Anh trong Thế chiến thứ hai.

Và ngày nay, máy tính không chỉ dùng để tính toán. “Máy vi tính“vốn là từ để chỉ những cá nhân có kỹ năng giải các phép tính số học. Mãi đến thế kỷ 19, người ta mới bắt đầu sử dụng thuật ngữ này để chỉ những cỗ máy thay thế con người giải quyết các vấn đề. Máy tính này có tốc độ tính toán siêu nhanh, đặc biệt là sau thế kỷ 20, khi thiết bị điện tử thay thế bánh răng như bộ phận cốt lõi của máy tính.

Tuy nhiên, nhược điểm của những chiếc máy tính đầu tiên này là khả năng phát triển giải pháp cho một vấn đề cụ thể. Để sử dụng máy tính cho mục đích khác, người ta phải thay đổi mạch điện của chúng. Máy tính vẫn tồn tại theo cách này cho đến năm 1936, khi một chuyên gia toán học người Anh, Alan Turing, đưa ra ý tưởng rằng máy tính có thể giải quyết bất kỳ vấn đề nào. Chỉ là tính toán thuần túy.

Theo đó, giả sử bài toán được chuyển thành các biểu thức toán học, sau đó mã hóa chúng thành một chuỗi các biểu thức logic gồm các chữ số nhị phân và chỉ dẫn đến một trong hai kết quả: Đúng hoặc Sai. Ý tưởng này đơn giản hóa mọi thứ (từ số và chữ cái đến hình ảnh và âm thanh) thành chuỗi chỉ gồm hai chữ số 0 và 1 và sau đó áp dụng một công thức – hoặc chương trình – để giải quyết vấn đề. theo cách đơn giản nhất. Từ giờ, máy tính kĩ thuật số ra đời, mặc dù vào thời điểm đó nó vẫn là một máy ảo.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, giúp quân Đồng minh giải mã các thông điệp của Đức Quốc xã được mã hóa bằng cỗ máy bất khả chiến bại Enigma, nhà toán học Alan Turing đã phát minh ra một trong những máy tính hiện đại đầu tiên. Theo đó, ngoài khả năng lập trình, chiếc máy tính kỹ thuật số này còn có thể thực hiện nhiều chức năng khác chỉ bằng cách đổi kênh.

Nếu ông đặt máy tính của mình vào thời đại mà sức mạnh của máy tính tăng 2,5 lần một năm như ngày nay (theo dự đoán của Gordon Moore vào năm 1965), nó sẽ chỉ là một cỗ máy lỗi thời. Điều đó nói lên rằng, sự thành công của chiếc máy tính lỗi thời này đến từ chính tiêu đề “bộ não điện tử đầu tiên”.

Alan Turing có một niềm tin bất diệt rằng máy tính có thể suy nghĩ như con người và với phần mềm phù hợp, chúng có thể trò chuyện mà chúng ta không thể biết người nói là người hay chỉ là máy. máy vô tâm. Kiểm tra Turing – Bài kiểm tra khả năng trí óc của máy tính được đề cập lần đầu tiên vào năm 1950 trong bài báo “Máy tính và trí óc “ – được sinh ra ở đây. Bài kiểm tra được tiến hành khi người chơi thảo luận với con người và máy tính. Một máy tính vượt qua bài kiểm tra và được coi là có khả năng tư duy khi người chơi không thể nhận ra ai là máy tính và ai là con người. Tuy nhiên, đáng tiếc là cho đến nay vẫn chưa có máy tính nào vượt qua được bài kiểm tra này.

Tầm nhìn cho tương lai kỹ thuật số

Năm 1952, Turing, khi đó mới 40 tuổi, là người đầu tiên khởi xướng lĩnh vực này trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, chính ở đỉnh cao của sự nghiệp, cuộc đời của nhà toán học thiên tài lại trở thành địa ngục trần gian khi anh bị bắt và bị buộc tội có quan hệ đồng giới không đứng đắn. Sau khi bị buộc tội, anh ta không được phép sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của Trung tâm Mật mã Bletchley Park, Vương quốc Anh, nơi anh ta và các cộng sự đã làm việc trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Không chấp nhận án tù, anh chọn cách quản thúc tại gia với điều kiện anh phải tham gia điều trị hormone nội tiết tố nữ để hạn chế nhu cầu tình dục mặc dù phương pháp này là phản khoa học. Hai năm sau khi bắt đầu điều trị “thiến hóa học”, vào ngày 7 tháng 6 năm 1954, người ta phát hiện ra rằng Alan Turing đã tự sát tại nhà riêng.

Báo cáo điều tra và khám nghiệm tử thi của cảnh sát cho biết nguyên nhân cái chết là ngộ độc xyanua. Ngoài ra, khi tiến hành khám nghiệm, bên cạnh thi thể người ta đã tìm thấy một quả táo cắn dở. Dựa trên những bằng chứng được tìm thấy tại hiện trường, các chuyên gia kết luận rằng Alan Turing đã tiêm xyanua vào quả táo trước khi ăn nó. Tuy nhiên, vì quả táo không được giám định nên nhiều giả thuyết khác về cái chết của nhà toán học thiên tài đã nảy sinh như: Đột ngột hít phải khí xyanua, một chất hóa học có độc tính cao mà ông dùng để tiến hành quá trình này. Thử nghiệm trong phòng của tôi.

Chân dung nhà toán học Alan Turing
Chân dung nhà toán học Alan Turing (1912-1954).

Dù có nhiều nghi vấn về việc Alan Turing tự tử nhưng có một điều chắc chắn là anh quyết định tự kết liễu cuộc đời mình vì không thể chịu đựng được sự lên án, hà khắc của chính quyền và xã hội đối với mình. người đồng tính luyến ái cũng như nỗi đau trong quá trình trị liệu “thiến hóa học” sớm kết thúc một năm trước khi qua đời.

Đồng thời, không có bằng chứng nào khẳng định logo của Apple có hình quả táo cắn dở – được coi là nhà sản xuất smartphone hàng đầu đã tạo nên cuộc cách mạng trong lĩnh vực khoa học máy tính trong quá khứ. Những năm 1970 – một vòng hoa tưởng nhớ Alan Turing. Bất chấp giả thuyết về sự trùng hợp của các dải cầu vồng trong logo ban đầu của Apple với biểu tượng lá cờ đồng tính, Steve Jobs – người sáng lập Apple vẫn phủ nhận rằng đó không phải là nguồn gốc của logo công ty. Anh ấy nói với nhà văn kiêm diễn viên Stephen Fry: “Chúng tôi muốn logo của thương hiệu xuất phát từ lớp ý nghĩa này, nhưng tiếc là không phải vậy. “

Người đặt vòng hoa tưởng niệm thực ra là cộng tác viên của Turing với Tur Giải Turing được khởi xướng vào năm 1966, tương đương với giải Nobel về khoa học máy tính. Cho đến cuối thế kỷ 20, giải thưởng này đã được công nhận trên toàn thế giới. Và đến năm 2009, Thủ tướng Anh Gordon Brown đã chính thức xin lỗi Alan Turing vì sai sót trong việc điều trị thay vì trả lời một bản kiến ​​nghị trực tuyến yêu cầu hoàng gia ân xá cho nhà toán học vĩ đại người Anh.

Tuy nhiên, danh dự của Alan Turing đã không được phục hồi vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông vào năm 2012 do sự chậm trễ do bảo lưu chính trị và thủ tục ân xá phức tạp. Cho đến tháng 8 năm 2014, lệnh ân xá của hoàng gia đã được ban hành cho “tưởng nhớ nhà toán học Alan Turing vì những đóng góp của ông trong chiến tranh, không phải vì những lời buộc tội sau này”. Đây là một biện pháp đặc biệt mang tính biểu tượng vì chỉ được ân xá khi người phạm tội được chứng minh là vô tội.

Đồng thời, sắc lệnh hoàng gia Anh của Nữ hoàng Elizabeth II đã mở đường cho một cuộc cách mạng khác. Vào tháng 2 năm 2015, gia đình của nhà toán học đã yêu cầu ân xá cho gần 50.000 người khác bị kết án ở Anh vì hành vi quan hệ tình dục đồng giới, vốn là bất hợp pháp ở Anh. từ năm 1885 đến năm 1967.


Vậy là bạn đã có thêm nhiều thông tin về chủ đề Tấn bi kịch cuộc đời Alan Turing – cha đẻ của ngành khoa học máy tính rồi nhé. Blogradio tin rằng bạn đã có nhiều kiến thức khoa học hữu ích rồi. Ngoài đọc bài viết này bạn có thể xem thêm nhiều tin tức khoa học – Công nghệ khác tại đây nhé: Xem tại đây.

Tấn bi kịch cuộc đời Alan Turing – cha đẻ của ngành khoa học máy tính

Từ khoá liên quan đến chủ đề Tấn bi kịch cuộc đời Alan Turing – cha đẻ của ngành khoa học máy tính

#Tấn #kịch #cuộc #đời #Alan #Turing #cha #đẻ #của #ngành #khoa #học #máy #tính.

Chân thành cảm ơn bạn đã đồng hành cùng Blogradio.

Nguồn: khoahoc.tv

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *